Menu

Lễ hội đền Chiêu Trưng



[Theo Cinet] - Đền Chiêu Trưng còn gọi là đền Võ Mục, thuộc xã Kim Đôi nay là xã Thạch Kim, huyện Lộc Hà. Đền thờ Lê Khôi, thuỵ là Võ Mục, con ông Lê Trừ - người anh thứ hai của Lê Lợi. Hàng năm, vào ngày 1,2,3 tháng 5 âm lịch là ngày giỗ ông, nhân dân tổ chức lễ hội, đây là dịp giới thiệu về thân thế sự nghiệp và công lao của danh tướng Chiêu Trưng đại vương Lê Khôi trong lịch sử chống giặc Minh xâm lược.

Lê Khôi tham gia nghĩa quân Lam Sơn từ những ngày đầu, có tên trong Hội thề Lũng Nhai và trong danh sách 35 vị công thần khởi nghĩa. Ông làm quan trải 3 triều (Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, và Lê Nhân Tông) lên tới chức: Khâm sai tiết chế thủy lục như dinh, Hộ vệ thượng tướng quân.
Năm 1443, ông được phái vào làm Tổng trấn Hoan Châu, ông chú trọng phát triển nông nghiệp đắp đập khai hoang lập làng. Năm 1446, phụng mệnh vua Nhân Tông, ông cầm quân đi đánh Chiêm Thành, trên đường trở về bị bệnh nặng, mất tại Cửa Sót, dưới chân núi Nam Giới.
Thi hài ông an táng tại chóp núi Long Ngâm. Triều đình làm quốc tang và cho lập đền thờ tại đây. Năm 1487, vua Lê Thánh Tông tặng phong “Chiêu Trưng đại vương”.
Đền Chiêu Trưng gồm 3 toà được xây dựng năm Đinh Mão (1477), một năm sau khi Lê Khôi mất, đã qua nhiều lần trùng tu vẫn giữ được kiến trúc ban đầu.
Lễ hội đền Chiêu Trưng gồm 2 phần:
Phần lễ được cử hành trang nghiêm và xúc động. Sau đám rước của 4 xã Thạch Hải, Thạch Bàn, Mai Phụ, Thạch Kim từ các đền thờ vọng vào các điện thờ, đúng 14h các vị chủ tế và bồi tế đã làm lễ bái chiêu hồn tướng công trước sự chứng kiến của hàng trăm người đi lễ. Lễ hội kết thúc vào ngày mùng 3 với phần tạ lễ của nhân dân trong vùng.
Phần hội tưng bừng với những tiết mục nghệ thuật mang đậm đà bản sắc riêng xứ Nghệ cùng những trò chơi dân gian, những hoạt động thể thao thu hút đông đảo nhân dân địa phương và du khách.
Đến lễ hội, du khách còn đắm mình trong danh thắng Quỳnh Viên - Nam Giới - Cửa Sót. Bởi thắng cảnh nơi đây gắn liền với sự tích kỳ ngộ trên bãi sông để nên duyên vợ chồng của công chúa Tiên Dung và Chử Đồng Tử và vườn Quỳnh Viên của Chử Đồng Tử.

Lễ hội Đền Bạch Mã



[Theo Cinet] - Lễ hội Đền Bạch Mã được tổ chức từ ngày 9 đến 10-2 âm lịch hàng năm, tại huyện Thanh Chương. Đền Bạch Mã là 1 trong 4 ngôi đền linh thiêng nhất xứ Nghệ.
Đền Bạch Mã thờ vị anh hùng Phan Đà, người thôn Chí Linh, xã Võ Liệt. Phan Đàn xuất thân trong gia đình làm nghề chài lưới ven sông Lam. Ông sớm mồ côi cả cha lẫn mẹ, tuổi trẻ là người thông minh nhanh nhẹn được bạn bè mến phục. Đất nước gặp họa ngoại xâm, năm 1424 ông gia nhập nghĩa quân Lê Lợi chịu trách nhiệm trong việc móc nối, dò la tin tức và chặn đánh các mũi tiến công của địch, lập nhiều chiến công lớn được Bình Định vương Lê Lợi khen là kỳ đồng (tuổi trẻ có tài kỳ lạ). Trong 1 lần do la tin tức của địch, ông bị phát hiện và bị đánh trọng thương và khi về đến căn cứ thì trút hơi thở cuối cùng.
Theo sử cũ, Phan Đà đã nhiều lần linh ứng cứu giúp nhân dân tai qua nạn khỏi, dịch bệnh, phù trợ các triều đại phong kiến đánh thắng kẻ thù. Để tưởng nhớ vị tướng trẻ tài ba, dũng mãnh, sau thắng lợi kháng chiến chống quân Minh, Lê Lợi đã cho xây dựng đền đài làm nơi thờ cúng và phong sắc Đô Thiên Đại Đế Bạch Mã Thượng Đẳng Phúc Thần và cúng tế hàng năm.
Từ năm 2001 đến nay, lễ hội Đền Bạch mã được khôi phục và được tổ chức long trọng vào 2 ngày 9, 10/ 2 âm lịch. Hoạt động của lễ hội đã thu hút đông đảo nhân dân và du khách hập phương thăm viếng, thưởng ngoạn. Lễ hội gồm 2 phần:
Phần Lễ bao gồm: Lễ Dâng hương tại phần mộ Phan Đà, tại Phủ Ngoại; Lễ rước từ Đền Bạch Mã; Lễ yết cáo; Lễ tế thần; Lễ tạ.
Phần Hội: Tổ chức hoạt động văn nghệ, sinh hoạt thơ, bình thơ; tổ chức thi văn nghệ quần chúng và thi người đẹp. Ngoài ra tổ chức các giải thể thao và trò chơi dân gian như: bóng chuyền thanh niên khối THPT, vật cù, cờ thẻ, kéo co nữ, chọi gà…

Lễ hội đền Đức Hoàng



[Theo Cinet] - Lễ hội đền Đức Hoàng được tổ chức vào ngày 30/1 và 1/2 âm lịch hàng năm, tại xã Phúc Thành (huyện Yên Thành, Nghệ An), để tưởng nhớ công lao của Hoàng Tá Thốn.
Theo các sử liệu, Hoàng Tá Thốn không những có tài thao lược mà còn có công lớn trong việc chiêu dân, mở đất, lập làng... nên được nhân dân nhiều địa phương tôn làm Thành hoàng.
Văn bia và phả tộc họ Hoàng (ở Vạn Tràng) ghi chép: Sát Hải Đại Vương Hoàng Tá Thốn sinh năm Giáp Dần (1254) vào đời vua Trần Thái Tông, ở làng Vạn Phần, phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
Lịch sử ghi lại, đời vua Trần Nhân Tông, năm Mậu Tý (1288), tướng nhà Nguyên - Mông là Thoát Hoan và Ô Mã Nhi đem quân sang xâm lư­ợc nước ta. Tư­ớng quân Hoàng Tá Thốn được cấp ấn phù, thống lĩnh hàng vạn quân cùng tàu thuyền phục kích ở sông Bạch Đằng để đại phá quân giặc.... Dưới tài tổng chỉ huy của Trần Hưng Đạo, trận đánh diễn ra ác liệt, quân ta đại thắng, Ô Mã Nhi bị bắt sống. Vua Trần Nhân Tông phong cho Hoàng Tá Thốn là “Sát Hải Chàng Lại Đại T­ướng Quân”. Là vị tướng có dũng khí, trí thông minh và nhiều mư­u l­ược, có công với dân với nước nên sau khi ông mất, triều đình cho lập đền thờ ở nhiều nơi, trong đó có đền Đức Hoàng, xã Phúc Thành huyện Yên Thành. Năm 2000, Đền Đức Hoàng được Nhà nước công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.
Lễ hội đền Đức Hoàng gồm hai phần:
Phần lễ được tổ chức với các nội dung: lễ khai quang, lễ yết cáo, lễ rước, lễ tế thần, lễ tạ và lễ hoa đăng (lễ cáo từ).
Phần hội nhiều hoạt động phong phú gồm: biểu diễn văn nghệ quần chúng, thi đấu bóng chuyền nam, nữ, đấu vật tự do toàn huyện, thi người đẹp đền Hoàng; các trò chơi dân gian như kéo co, đánh đu, chọi gà, đua thuyền, nấu cơm, bắt cá; các trò chơi hiện đại như mô tô bay, điện tử, xe điện dụng, nhà hơi siêu nhân, xe tàu điện cùng nhiều hoạt động khác.
Lễ hội là dịp để bà con nhân dân địa phương và du khách gần xa tưởng nhớ công đức của Sát Hải Đại Vương Hoàng Tá Thốn - người có công đánh đuổi giặc Nguyên - Mông, đem lại thái bình cho đất nước.

Lễ hội Cầu Ngư Sơn Hải



[Theo Cinet] - Lễ hội Cầu Ngư được tổ chức vào ngày 12 và 13 tháng Giêng, tại xã Sơn Hải (huyện Quỳnh Lưu). Đây là một lễ hội truyền thống thể hiện bản sắc văn hóa tâm linh đang được ngư dân vùng biển Quỳnh Lưu bảo tồn, giữ gìn và phát huy. 
Theo phong tục, lễ hội cầu ngư trước đây được tổ chức vào hai ngày mồng 6 và mồng 7 tháng Giêng âm lịch. Nhưng do điều kiện thực tế hiện nay, thời gian tổ chức lễ hội không còn bắt buộc và cố định về ngày giờ nữa. Căn cứ vào con nước lên xuống, cứ trúng vào ngày nào con nước lên to nhất, tàu thuyền có thể ra khơi xa được trong tháng Giêng thì ngày đó ngư dân sẽ tổ chức lễ hội cầu ngư.
Đây là một lễ hội có truyền thống từ xa xưa, nguồn gốc ra đời rất ít người biết đến, người dân Sơn Hải chỉ nghe các cụ kể lại rằng: Thời xưa đây là một lễ hội có tính chất và quy mô hoành tráng nhất nhì so với các địa phương xung quanh, nhưng lễ hội này đã có một thời gian gần 50 năm bị thất truyền. Vì vậy, ngày nay để khôi phục tổ chức lại lễ hội này, cán bộ và nhân dân xã Sơn Hải đã phải bỏ ra nhiều công sức nghiên cứu, điều tra và sưu tầm ở một số lễ hội khác. Từ đó dần dần nâng cấp và hoàn thiện, tạo cho nó một dấu ấn, đặc trưng riêng.
Lễ hội gồm có 2 phần chính là phần lễ và phần hội. Phần lễ bao gồm lễ khai quang, lễ yết cáo, lễ cầu ngư, lễ đại tế, lễ tạ tại các điểm rước kiệu qua như đình Trung, đền Thơi, Đài tưởng niệm, Chùa Thanh Sơn.
Phần hội bao gồm các hoạt động văn hoá văn nghệ và hai đoàn rước kiệu. Trong đó một đoàn đi theo đường thuỷ gồm 7 thuyền lớn được trang trí lộng lẫy đi từ Đình Trung đến Đền Thơi, một đoàn rước theo đường bộ sẽ rước kiệu từ Đình Trung xuống Đền Thơi. Sau đó, hai đoàn sẽ tập trung làm lễ tại chùa Thanh Sơn và quay trở lại Đình Trung. Các đoàn thể khi tham gia sẽ mặc trang phục thể hiện đặc trưng riêng của đoàn thể mình.
Lễ hội Cầu Ngư của người dân Sơn Hải, thể hiện ước muốn được mùa màng bội thu, khai thác đánh bắt hải sản thuận lợi, thu được nhiều lợi nhuận.

Hội Thanh Đàm



[Theo lukhach24h] - Hội Thanh Đàm được tổ chức từ ngày 15 - 18/2 âm lịch hàng năm, tại làng Thanh Đàm, xã Nam Tân, huyện Nam Đàn. Hội được tổ chức nhằm suy tôn Thủy thần với phần Rước và thả hến độc đáo.
Đình Thanh Đàm cách thành phố Vinh 30 km về phía TâyNam. Ngôi làng này gần sông Lam. Đình được xây dựng vào năm 1899 (mùa đông năm Kỷ Hợi) và hoàn thành cuối năm 1900. Đình ngoảnh mặt hướng Đông - Nam, theo các cụ cao tuổi trong làng cho biết, đó là hướng càn tốn. Đình Thanh Đàm thờ Đức Ông sông nước. Di tích nằm trong khuôn viên rộng 1 ha, phía trước có 2 cây cổ thụ cành lá xum xuê. Cổng đình có 2 cột quyết, trên có hai con nghê chầu lại, phía trong có 2 con voi, 2 ông tướng, có bức nghi môn, được đắp nổi hình hổ phù.
Đình Thanh Đàm có 5 gian, dài 21m, rộng 5m, 21 cột gỗ lim ròng, trong đó 12 cột cao 4,5m, cột thấp 3,2m. Trên nóc đình đắp nổi hình hương long triều nguyệt, 4 mái cong vút, tạo cho ngôi đình thêm uy nghi. Đình lợp ngói múi hài, phía trong mỗi cột gỗ có kê một chân đá tảng (đá xanh) được đẽo tạc công phu. Thợ làm đình là thợ mộc Thái Yên (2 tốp thợ). Nghệ thuật kiến trúc đình khá đẹp, trong đình có 10 kẻ, ở hai đầu hồi được khắc hình hoa lá, chim thú; 4 đầu rồng ở 2 vì giữa, hai vì phía nam có hình rồng ngậm ngọc, hai vì phía bắc rồng dương vi dữ tợn. Các cụ kể rằng 4 con rồng, do hai tốp thợ bí mật làm.
Ba hôm sau họ dựng lên các vì kèo, thì tốp thợ có chạm hình rồng ngậm ngọc thắng cuộc, được hội đồng bô lão thưởng 10 quan tiền đồng. Thầy Hiệu, người Diễn Châu được làng mời về lập đàn làm chay, cầu cho quốc thái dân an, làng xóm trù phú, yên vui. Thầy có bài thơ ca ngợi cảnh đẹp của ngôi Đình.
“Làng ta nay khí giời ôn đúc
Mạch đất vững vàng, hai mươi mẫu dân cư người đông cổ thịnh
Đình Kỳ Phúc năm gian chính chiện
Toạ đàn hương tốn chữ tràng sinh, trông thấy rõ ràng
Áng Minh đường quanh trước Sông Lam
Sóng bạc phau phau hơi gió thổi lặng tăm kình ngạc
Ngôi huyền vũ dựng sau núi Đụn
Mạo vàng choi chói bóng trăng soi tất khởi sài lang
Phong cảnh ấy giời còn tô vẽ
Gái lịch trai thanh nhiều người tuấn tú
Văn thang võ chức đủ cách giàu sang
Bậc kỳ anh da bọc tóc mồi
Chen vai cõi thọ nền xuân
Bộ quắc thước trông chừng cứng cỏi”.

Lễ hội Đền Chín gian



Chín trâu tượng trưng chín bản mường. Ảnh: Internet
[Theo Cinet] - Lễ hội Đền chín gian, hàng năm có hai kỳ tế lễ, vào dịp tháng Hai đầu năm âm lịch và tháng Tám vào dịp Pò Hàu Cắm. Trong các kỳ tế lễ, những nghi lễ tâm linh được tổ chức hết sức trang nghiêm.
Mở đầu luôn là lễ chém trâu (Phắn quái) - một nghi lễ quan trọng được tổ chức vào buổi sáng sớm ngày đầu tiên của lễ hội, ngay trước sân đền.
Truyền thuyết kể lại rằng, một năm, vào ngày mở hội tế trời, khi chuẩn bị hành lễ hiến trâu, bỗng có con rồng bay đến cuốn đi con trâu trắng của Mường Tôn. Thấy điềm xấu, Tạo Mường liền cho giết trâu làm lễ tế, khấn xin trời phật, tổ tiên để chuyển dời đền đi nơi khác. Tương truyền rằng, có con quạ cổ khoang trắng đến gắp miếng xương trâu nơi đền cũ bay đi và thả xuống một ngọn đồi nhỏ phía nam Mường Tôn, còn gọi là Pú Căm (Núi vàng), tục gọi là Pú quái (núi trâu). Trong kho tàng truyện cổ dân gian người Thái nơi đây vẫn còn lưu lại truyền thuyết lập bản dựng mường hết sức đẹp đẽ.
Truyền thuyết xưa kể lại rằng, Tạo Mường ở Luông Pha Băng (cố đô Luôngphrabăng - Lào) sinh được 2 người con trai, anh là Ló Ỳ, em là Ló Ai. Cả hai anh em đều thông minh, khoẻ mạnh hơn người nhưngngười em vốn tham lam và đố kỵ, thấy cha có ý định nhường ngôi cho anh nên đã giết chết rồi vứt xác xuống dòng sông Mã (tỉnh Thanh Hóa bây giờ). Xác Ló Ỳ cứ trôi theo dòng nước bị mắc kẹt ở một khúc sông hẹp. Nhưng rất may, có một con quạ cặp một lọ thuốc tiên đến đổ vào miệng và bỗng thấy Ló Ỳtỉnh lại, đi đứng bình thường. Nhân dân thấy Ló Ỳ khoẻ mạnh, có nguồn gốc trong dòng dõi một quý tộcnên đã tôn Ló Ỳ làm Tạo và tên Tạo Ló Ỳ xuất phát luôn từ đó. Nhớ ơn con quạ đã cứu sống mình, Ló Ỳ cùng nhân tại đây đặt tên cho Mường của mình là Mường Cả Giả (gọi là mường Quạ Cứu - naythuộc xã Hội Xuân, huyện Quan HoáThanh Hoá). Vì quá thương cha mẹ già, Tạo Ló Ỳ đã trao quyền cho người khác để trở về quê cũ. Trên đường về quê cũ, băng rừng vượt suối, Tạo Ló Ỳ không biết đường nên đã lạc vào một vùng đất người Thái. Thể theo yêu cầu của mọi người, Ló Ỳ đã ở lại giúp dân lập bản dựng mường và trở thành vị chúa đất đầu tiên nơi đây.
Đền Chín Gian được xây dựng từ đầu thế kỷ  XIV tại Pú Chò Nhàng gọi là Tến Pỏm (đền trên núi) ở bản Khoẳng, Châu Kim,  huyện Quế Phong (Nghệ An). Trong tâm thức của đồng bào Thái vùng Phủ Quỳ, đây là nơi hướng về trong tín ngưỡng tâm linh đối với Thẻn Phà (trời), Náng Xỉ Đả (Con gái trời) và Tạo Ló Ỳ(người có công xây bản lập mường). Đền có tên là "Tến Xớ Quái" (đền hiến trâu), nhưng vì có 9 gian nên bà con thường gọi là "Tến Cau Hoong" (có nghĩa là đền chín gian).
Vùng đất đầu tiên do Tạo Ló Ỳ cai quản được gọi là Mường Tôn (Mường chủ, Mường gốc) bao gồm các bản Piếng Chào, Bản Đô, Bản Giang (Châu Kim), Bản Đỏn Cớn (Mường Nọc), Bản Pỏi, Bản Đỉn Đảnh (Châu Thôn), mường Chò Lè (Tri Lễ). Và 8 Mường được lập sau là Mường Quáng, Mường Chừn, Mường Pắn, Mường Puộc, Mường Ha Quèn, Mường Miểng, Mường Chón, Mường Chòng thuộc 11 xã của 3 huyện Quế Phong, Quỳ Châu và Quỳ Hợp.
Sau khi lập Mường xong với tài đức cai quản của Tạo Ló Ỳ, cuộc sống của nhân đân khá lênTuy nhiên, ông trời vẫn thường gây nên thiên tai lũ lụt, bởi vậy, dân các mường đã xin Tạo cho dựng một ngôi đền ở Mường Tôn, lấy chỗ cúng trâu cho Trời, cầu xin mưa thuận gió hoà, mùa màng no ấm. Tiếng địa phương gọi đền là Tến Xớ Quái (đền Hiến Trâu), nhưng vì đền có chín gian nên đổi thành Tến Cau Hong (Đền Chín Gian).
Vì vậy, trong lễ hội Đền Chín gian lễ vật đầu tiên không thể thiếu mà dân Mường Tôn dâng lên trong dịp lễ tế trời và Tạo Ló Ỳ là một con trâu cái trắng (lễ vật cúng tế linh thiêng nhất)Mường Quáng vàMường Puộc cũng hiến hai trâu trắng nhưng là trâu đực; 6 Mường còn lại cúng 6 con trâu đen và phải là những con trâu khỏe mạnh.
Bắt đầu buổi lễ, người chủ lễ (mo cả) mặc trang phục lễ (Xựa tẩy) làm lễ tắm trâu ngay tại bến nước dưới chân núi Pù Quái trước sự chứng kiến của mọi người.
Nghi lễ chém trâu. Ảnh: Internet
Sau khi tắm xong, con trâu hiến tế được đưa lên sân đền với một lễ rước trang nghiêm. Chủ lế đi ba vòng quanh con trâu đã được buộc chặt vào chiếc cọc gỗ, vừa đi vừa đọc bài xến bằng tiếng dân tộc Thái mang nội dung cầu cho “Chín mường mười bản” yên lành. Theo sau là những người có chức vị trong xã hội ở các mường.
Tiếp đến, chủ lễ dùng chiếc rìu sắc bổ thẳng vào đốt xương cổ nơi tiếp giáp với xương sọ trâu. Trâu  ngã xuống mới chọc tiết. Thịt trâu làm xong, nấu chín trong những chiếc vạc lớn chia đều thành chín phần để làm lễ tế tại chín gian trong đền cùng với  9 chum rượu cần được tiếp bằng nước sông múc từ bến Tà Tạo chân núi Pù Quái, đưa lên bằng ống nứa.
Lễ chém trâu sẽ được tiến hành trong tiếng reo hò của bà con về dự lễ. Thịt trâu được đặt lên bậc sạp cao nhất của gian đền. Thầy mo làm lễ nạp trâu suốt ba ngày đêm, rồi đem chia ra, nấu lên cho mọi người cùng ăn.
Sau khi lễ tế trâu xong, mọi nghi thức tế lễ khác mới bắt đầu. Mọi người quan niệm, con trâu mộng được hiến tế nếu gục xuống chỉ sau một nhát bổ, năm đó xem như mọi việc đều tốt lành, vạn vật sinh sôi, mùa màng no đủ, người người khoẻ mạnh...
Lễ hội Đền Chín gian và nghi lễ chém trâu đã góp phần khơi dậy truyền thống tốt đẹp "uống nước nhớ nguồn" biết ơn những người có công dựng bản, lập mường; đồng thời góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống của đồng bào dân tộc Thái vùng Tây Bắc Nghệ An.

Lễ Pasưm của người Khơ Mú



[Theo TTXVN] - Người Khơ Mú ở Nghệ An thường làm lễ Pa Sưm trước lúc tra hạt trên nương rẫy. Đây là lễ cầu khấn trời đất, tổ tiên và các thần linh cho nương rẫy được bội thu.
Chủ lễ là người phụ nữ trong nhà. Bà đóng vai Mẹ lúa, tượng trưng cho sự sinh sôi, nảy nở. Trước tiên, Mẹ lúa dọn một khoảnh đất khoảng 2m2, đủ để đặt mâm làm lễ cúng ở một chỗ tương đối bằng phẳng trên rẫy, gọi là Mắt rúc. Mẹ lúa đặt mâm cúng vào giữa Mắt rúc, trong mâm ngoài xôi, rượu, muối nhất thiết phải có một con gà luộc và con gà này phải là gà trống lông đen. Mẹ lúa trong trang phục cổ truyền chỉnh tề, trước mâm lễ đọc bài cúng, nội dung cầu khấn Hrôi Yvang (Thần Ông trời) làm cho mưa thuận gió hòa, Hrôi Ptê (Thần Đất), Hrôi Hrê (Thần Nương rẫy) làm cho hạt giống mau nẩy mầm, lên xanh tốt, bông to, hạt mẩy, muông thú không phá hoại.
Mẹ lúa làm lễ xong, mọi người bắt tay vào tra hạt. Tra hạt xong Mẹ lúa làm lễ tưới nước, kết thúc lễ Pa Sưm. Vào buổi chiều tối ngày tra hạt xong, Mẹ lúa bảo mọi người lấy nước rửa tay, rửa gậy chọc lỗ cho sạch, đứng trước chòi lúa. Sau đó, Mẹ lúa cầm ống nước đi vòng quanh chòi lúa, tưới nước ra xung quanh, vừa làm vừa khấn: "Tưới cho cây lúa mọc, cho cây lúa nẩy mầm, cho hạt chắc bông dài, gốc lúa bằng gốc lau, bông lúa dài bằng quả núc nác…". Mẹ lúa khấn xong mọi người vào chòi ăn cơm, uống rượu, kết thúc công việc tra hạt.
Lễ Pa Sưm là một lễ trong hệ thống các lễ tục nông nghiệp của người Khơ Mú. Nó phản ánh niềm tin của đồng bào vào thiên nhiên (trời, đất, nương rẫy…) có linh hồn, phản ánh ước muốn của họ về mùa màng bội thu, cuộc sống đầy đủ.